PHẦN 1: LÔ ANILOX TRONG IN FLEXO

30/09/2021
Tin tức

MỞ ĐẦU

Ngày nay, cơ cấu sản phẩm in đã thay đổi nhiều, các sản phẩm sách, báo, tạp chí in trên giấy giảm xuống đáng kể và chắc chắn tiếp tục giảm trong tương lai, trong khi đó sản phẩm tem nhãn, bao bì hàng hóa ngày càng phát triển, nhất là bao bì mềm in trên các màng mỏng không thấm hút. Để in sản phẩm tem nhãn, bao bì loại màng mỏng, phương pháp in phù hợp và đang được dùng phổ biến là in flexo và ống đồng, mỗi phương pháp có điểm mạnh và hạn chế. Điểm mạnh của in flexo: Quá trình ít tốn kém; Tính linh hoạt trong sử dụng vật liệuTính linh hoạt do khả năng thay đổi các bộ phận trong thiết kế máy inDễ dàng và đơn giản trong chế bảnĐộ sắc nét cao của chữ  và đường kẻ; Chồng màu tốt ngay cả với các vật liệu mỏng nhất do máy in dạng CI (Common Impression Cylinder). Phương pháp in flexo được sử dụng chủ yếu dùng để in tem nhãn, bao bì hàng hóa và xu hướng này ngày càng tăng. Trong thực tế sử dụng phương pháp in flexo hiện nay, các nhà in vẫn chưa khai thác hết tiềm năng của thiết bị và còn lúng túng trong việc xử lý sự cố trong quá trình in, nhất là in loại sản phẩm chất lượng cao. Qua thực tế nhiều năm giảng dạy tại các cơ sở in, chúng tôi thấy rằng công nhân vận hành máy in flexo còn hiểu biết rất đơn giản về phương pháp in này, nhất là hiểu biết về lô anilox (một số người gọi là lô nhám hay lô khắc) - giá trị cốt lõi của phương pháp in flexo. Từ không hiểu biết hết về nó dẫn đến cách sử dụng và ứng xử với nó chưa phù hợp dẫn tới chất lượng in không cao, chưa tương xứng với giá trị thật của máy in flexo. Để phần nào hỗ trợ người sử dụng máy in flexo có những hiểu biết cơ bản về lô anilox, chúng tôi giới thiệu  những kiến thức cơ bản về lô anilox dùng trong in flexo bao gồm: Chức năng của lô; Cấu tạo lô; Các thông số kỹ thuật lô; Cách làm sạch lô trong quá trình in; Cách lựa chọn lô anilox trong quá trình in với các loại vật liệu, hình ảnh khác nhau. Qua đó, chúng tôi muốn cung cấp cho những người đang sử dụng và những ai muốn tìm hiểu về phương pháp in flexo cái nhìn toàn diện hơn về lô anilox dùng trong in flexo. Do khuôn khổ bài báo, chúng tôi chỉ đưa ra những điều cốt lõi của lô anilox và một số cách ứng xử với nó trong thực tiễn, nhằm đạt mục đích nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm chi phí sản xuất của doanh nghiệp in.

PHƯƠNG PHÁP IN FLEXO:

Phương pháp in flexo: Flexography (thường được viết tắt là flexo) là một dạng của quá trình in  sử dụng bản in dạng mềm. Về cơ bản nó là một phiên bản hiện đại của in typo (letterpress) có thể được sử dụng để in trên hầu như bất kỳ loại chất nền, bao gồm cả nhựa, màng kim loại, giấy bóng kính và giấy. Nó được sử dụng rộng rãi để in trên các bề mặt không xốp dùng cho các loại bao bì thực phẩm khác nhau. Năm 1890, máy in flexo được cấp bằng sáng chế đầu tiên  ở Liverpool,  Anh bởi Bibby. Vào đầu những năm 1900, các máy in của châu Âu sử dụng các tấm bản cao su và mực in anilin để in. Điều này đã dẫn đến nó được gọi là in “aniline".Vào đầu thế kỷ 20, kỹ thuật in này đã được sử dụng rộng rãi trong bao bì thực phẩm ở Hoa Kỳ. Sau đó, do mực anilin có thể gây độc hại cho con người nên không được sử dụng nữa, tuy nhiên, nó vẫn được gọi là in anilin. Đến năm 1952 hội nghị quốc tế gọi là in flexo (flexography).

Các ứng dụng: In flexo tiếp tục là một trong những quá trình in phát triển nhanh nhất và không còn dành riêng cho việc in các mặt hàng chuyên biệt. Bao bì thực phẩm là một thị trường quan trọng vì khả năng của in flexo in trên các vật liệu màng mỏng không thấm hút. Ứng dụng phổ biến khác được in với in flexo bao gồm giấy gói quà, giấy dán tường, tạp chí, tờ quảng cáo trên báo, sách bìa mềm, danh bạ điện thoại, và các phom mẫu kinh doanh...

Quá trình in: Các tấm bản sử dụng cho in flexo được làm bằng nguyên liệu cao su đúc hoặc photopolymer với các khu vực hình ảnh (phần tử in) nằm ở trên (cao hơn) các vùng không hình ảnh nằm dưới của tấm. Tấm bản flexo có thể được tạo ra với quá trình chế bản Analog và Digital. Flexo là một phương pháp in trực tiếp hoặc gián tiếp (trong thực tế chủ yếu in trực tiếp) trong đó mực của hình ảnh in trên bản truyền trực tiếp lên bề mặt vật liệu in. Trong hệ thống truyền mực có một lô đặc biệt được gọi là "lô anilox", dùng định lượng mực in để truyền lên bản, sau đó được truyền sang vật liệu. Các lô anilox có các ô chứa nhỏ (cell) mang một lượng cụ thể của mực để truyền sang bản. Số lượng ô chứa trên mỗi inch theo đường thẳng có thể khác nhau tùy theo loại công việc in và yêu cầu chất lượng. Cái tên "anilox" có nguồn gốc từ mực đã được sử dụng cho quá trình này cho đến năm 1950. Mực anilox được sản xuất với thuốc nhuộm "anilin", năm 1950, đã được phát hiện là mối nguy hiểm cho sức khỏe, vì vậy loại mực dạng hạt mang màu (pigment) được sử dụng. Lô mang mực tiếp tục được gọi là "anilox" mặc dù các loại mực là thuốc nhuộm anilin không còn được sử dụng cho flexography. Các loại mực hiện nay là chất lỏng, khô nhanh và thường xuyên dùng mực gốc nước.

Hình 1: Nguyên lý in flexo

LÔ ANILOX TRONG IN FLEXO:

Chức năng lô anilox trong hệ thống cấp mực:

Trong tất cả các phương pháp in, quá trình truyền mực là một trong các yếu tố quan trọng nhất, quyết định tới quá trình in và chất lượng tờ in. Hệ thống truyền mực của in flexo gồm hai loại chính: loại có lô máng mực và loại không có lô máng mực. Hệ thống có lô máng mực gồm: máng chứa mực, lô máng mực, lô anilox. Hệ thống không có lô máng mực gồm: máng chứa mực, lô anilox và dao gạt mực, trong đó, máng chứa mực gồm loại hở và loại hộp kín. Trong cả hai loại đều dùng lô anilox, lô này có thể nói là linh hồn, thành phần cốt lõi của phương pháp in flexo. In flexo có thể được phân biệt với các quá trình in khác bởi hệ thống mực của nó. Trong quá trình hoạt động, lô anilox được hệ thống dao gạt hoặc lô cao su gạt hết mực trên bề mặt lô, chỉ để lại lượng mực trong các ô chứa nhỏ (cell) trên lô.

Lô anilox có chức năng cơ bản nhất là định lượng mực truyền trong quá trình in, và nó chỉ ra chính xác của độ dày, quyết định đến sự thống nhất, và đồng đều lớp mực. Sự phát triển của lô anilox tiếp tục là trung tâm của quá trình cải tiến trong in flexo. Các lô anilox khắc bằng laser cho phép sử dụng lưỡi dao gạt,tạo ra hình ảnh đồng nhất khi in sản phẩm và trong thời gian dài. Ngày nay in flexo có thể cạnh tranh với tất cả các quá trình in, phần lớn là do các công nghệ lô anilox hiện đại.

 

Hình 2: Hệ thống cấp mực hai lô: lô máng mực và lô anilox.

 

Hình 3: Hệ thống cấp mực một lô loại máng mực hở: lô anilox và dao gạt mực.

 

Hình 4: Hệ thống cấp mực một lô loại hộp mực kín: lô anilox và dao gạt mực.

 

Cấu tạo của lô anilox:

Về nguyên tắc cấu tạo, các lô anilox là một ống hình trụ trên bề mặt có các lỗ nhỏ (Cell) chứa mực, thể tích mực in tại lỗ nhỏ (cell) chứa lượng mực thống nhất và được tính theo đơn vị riêng. Ống lô anilox được làm từ kim loại như thép, hoặc hợp kim khác trên bề mặt có thể được mạ crôm hoặc phủ gốm. Các lô anilox có chiều dài và đường kính khác nhau tùy theo kích thước máy in. Trên bề mặt lô anilox có khắc các lỗ nhỏ (cell) có chức năng chứa mực in để truyền lên bản in. Các lỗ chứa mực gồm hai thông số kỹ thuật chính, thể hiện chiều sâu và độ mở, nó rất quan trọng đối với chất lượng in,trong đó có sự đồng đều vùng nền và độ sắc nét của điểm trame trong ảnh tầng thứ.  Lô Anilox là thành phần cốt lõi trong hệ thống truyền mực. Chọn một lô anilox thích hợp cho công việc là điều quan trọng để in flexo thành công. 

 

Hình 5: Lô anilox dùng trong in flexo.

 

Cấu tạo lô anilox trong thực tế thường là một ống tròn làm bằng thép trên bề mặt có khắc những lỗ nhỏ hình tháp, tháp cụt, hình nón…được mạ crôm hoặc phủ gốm, xếp theo góc 30o, 45o, 60o. Số lỗ từ 80 – 2000 lỗ/inch. Những lỗ này có hình dạng, kích thước và độ sâu khác nhau để chứa lượng mực khác nhau. Các lô Anilox thường được khắc bằng cơ học hoặc laser, sau khi khắc chúng được mạ đồng xong rồi mạ chrome, hoặc phủ gốm tăng độ cứng, tăng tuổi thọ của chúng. Đặc trưng cơ bản của lô anilox gồm các thông số: Tần số ô (screen spacing); Độ rộng ô (cell width); Độ rộng nơi thấp nhất của ô (width of the cell at its lowest point); Độ rộng vách trên của ô (cell wall top width) hay vùng phẳng trên bề mặt lô (land); Độ sâu của ô (cell depth); góc mở của ô (opening angle); Vách cạnh của ô (sidewall top) được mô tả tại hình vẽ số 6.

 

 

Hình 6: Các thông số của các ô chứa mực (cell)

Hình 7: Các ô chứa mực (cell) trong thực tế

Các dạng cơ bản của ô chứa (cell) trên lô anilox:

Lô Anilox được khắc với ô chứa nhỏ bé, chúng thường có hình dạng kim tự tháp ngược. Các lô anilox có kích thước khác nhau với  hình dạng khác nhau của ô chứa. Hình dạng cơ bản của ô chứa (cell) lô anilox là: hình tháp (pyramid) và hình tháp cụt (quad); hình lục giác (hexagonal) hoặc lục giác cụt (quad hex); hình xoắn ốc (trihelical line); hình kênh dẫn (channelox).

 

Ảnh có chứa văn bản

Mô tả được tạo tự động

Hình 8: Các loại hình dạng ô (cell) trên lô anilox

 

Dạng hình kim tự tháp: Lô Anilox với ô chứa hình kim tự tháp đảo ngược được khuyên dùng cho tất cả các loại mực in flexo cũng như phủ vecni.

Dạng hình tứ giác cụt: Lô Anilox với các ô chứa hình tứ giác cụt có khối lượng của mực in nhiều hơn so với các ô hình kim tự tháp ngược.Những ô này thường được sử dụng với lưỡi dao góc ngược.

Dạng hình lục giác và lục giác cụt: Loại này có đặc điểm giống như hình tứ giác, tuy nhiên loại lục giác trên cùng một diện tích chứa được nhiều ô hơn.

Dạng hình xoắn ốc: Loại lô hình dạng xoắn ốc được sử dụng để áp dụng phủ keo có độ nhớt cao. Đây là loại lô anilox có thể được sử dụng có hoặc không có dao gạt góc ngược.

Dạng hình kênh nốiLoại lô này các ô có thể có các hình dạng khác nhau, chỉ khác trên bề mặt giữa các ô có các rãnh (chanel) nối các ô với nhau nhằm mục đích tạo thuận lợi cho mực vào và ra tại các ô trong lúc in.

Các thông số kỹ thuật của lô anilox

Các thông số chính để mô tả 1 lô anilox: Đường kính, chiều dài lô; Cách khắc lô (dạng đường hoặc dạng theo nhịp); Hình dạng miệng lỗ (tứ giác, lục giác, tròn); Góc của đường lỗ (giống như góc trame): góc 45°, 30° hoặc 60°; Mật độ (số đường/in hoặc cm); Độ sâu của lỗ; Thể tích hay giá trị chứa mực của lỗ... Một số thông số kỹ thuật quan trọng thường được dùng khi lựa chọn lô anilox trong quá trình in bao gồm:

Số lượng ô chứa (Cell Count): Số lượng ô (cell) trên một inch của đường thẳng theo góc khắc, ký hiệu: lpi (line per inch).Số lượng ô hoặc tần số ô đề cập đến số lượng ô trên mỗi inch, số này được đo dọc theo góc khắc (vì đó là nơi các ô xếp hàng gần nhất với nhau). Đại lượng số ô trên centimet (lpc) được sử dụng ở Châu Âu, số ô trên inch (lpi) được sử dụng ở Bắc Mỹ. Để chuyển (lic) sang (lpi) phải nhân với 2,54.Số lượng ô chứa bằng 180(lpi) là rất nhỏ,chỉ được dùng trong phủ bóng hoặc in hình ảnh mà vật liệu kém chất lượng mà không phải là một ưu tiên. Số ô chứa bằng 360 (lpi), từng được coi là tốt,bây giờ là loại lô trung bình được sử dụng tốt trong công việc in trên giấy và các-tông thấm hút. Ngày nay số lượng ô chứa bằng 700 (lpi)trở lên,thường được sử dụng hình ảnh chất lượng rất cao trên vật liệu có bề mặt mịn, không thấm hút. Điều này giải thích tầm quan trọng của bề mặt vật liệu in trong việc lựa chọn một lô anilox. Tuy nhiên,hình ảnh cũng rất quan trọng trong việc xác định số lượng ô chứa. Số lượng ô càng nhiều,việc mang mực càng ít.

Độ sâu của ô chứa (cell deph): Độ sâu của ô chứa là thông số kỹ thuật tiếp theo và cũng quan trọng như số lượng ô chứa. Hai thông số kỹ thuật này xác định khối lượng hoặc giá trị (volume) ô chứa, chúng xác định về mật độ (độ đen)trong một ứng dụng nhất định. Hình 9 cho thấy ba lô anilox có số lượng ô chứa như nhau, nhưng có khối lượng rất khác nhau tùy thuộc vào độ sâu của ô chứa. Nó là khối lượng mà chúng ta quan tâm khi in. Khi xác định một lô anilox cần xác định số lượng ô chứa và khối lượng để thực hiện công việc còn chiều sâu ô chứa do các nhà cung cấp lô anilox quan tâm.

Ảnh có chứa văn bản

Mô tả được tạo tự động

Hình 9Ba lô anilox với số lượng ô chứa giống nhau, nhưng có khối lượng khác nhau, tùy thuộc vào độ sâu của ô chứa. Lô trên cùng có một khối lượng 5 BCM, lô phía dưới cùng có một khối lượng 2.5 BCM.

 

Khối lượng hay giá trị ô chứa (cell volume): Khối lượng/giá trị là lượng mực in trên mỗi inch vuông diện tích ô (cell). Ký hiệu là BCM- micron trên mỗi inch vuông (Billion Cubic Microns per square inch).Mỗi một ô chứa mực (cell) trên lô anilox có giá trị nhất định, tùy thuộc vào hình dạng, độ rộng, độ sâu của ô chứa. Giá trị này được tính trên một vùng có diện tích 1 inch vuông (in2) hay 1m2 của bề mặt lô anilox. Đơn vị đo của kích thước ô chứa là microm (µ) (1 µ = 10 – 4cm) và giá trị tương ứng của ô chứa là µ3.Giá trị lô anilox được xác định bằng 1 tỷ (109)thể tích microm3 trong 1 inch vuông (in2) hay một mét vuông (m2) trên bề mặt của lô anilox và được ký hiệu là: BCM/in (billion cubic microm). Trong hệ mét giá trị được tính bằng cm3/ m2. Giá trị chuyển đổi giữa 2 đơn vị như sau: 1 BCM/in=1.549 cm3/m2 và 1 cm/ m2  = 0.646 BCM/ in2

Khối lượng ô chứa (cell) là khả năng mang mực của một ô chứa nhân với số ô trong một inch hoặc mét vuông trên bề mặt lô.Đơn vị đo lường chung ở Bắc Mỹ là BCM / inlà tỷ micron khối trên mỗi inch vuông (billion cubic microns per square inch). Ở Châu Âu, đơn vị sử dụng phổ biến hơn là cm3/ mcentimet khối trên mét vuông (cubic centimeters per square meter). Khối lượng ô (cell) xác định lượng lớp mực trong từng ô. Khối lượng/ giá trị của ô chứa là thông số cơ bản nhất khi dùng để lựa chọn lô anilox trên thực tế trong quá trình in flexo.

 

Ảnh có chứa văn bản, mẫu họa

Mô tả được tạo tự động

Hình 10: Kích thước các ô khác nhau, có giá trị truyền mực khác nhau

 

Khi tính số ô cho mỗi inch vuông cần phải chú ý tới góc của các ô trên lô. Có hai cách tính để xác định số lượng ô (cell)/ mỗi inch vuông của một lô: cho cấu hình loại ô có góc 45° và cho cả hai loại góc  60° hoặc 30°. 
1) Loại cấu hình ô góc 45°: (Tần số đường (lpi)) X (Tần số đường (lpi)) = Số ô (Cells) trên mỗi Inch vuông. Ví dụ: Đối với tần số đường 500 dòng, lô anilox 45° thì số ô như sau 500 x  500 =250.000  ô / inch vuông. 
2) Loại cấu hình góc 60° và 30°: {(Tần số đường (lpi)) X (Tần số đường (lpi))} X 1,15 = Số ô cho mỗi inch vuông. Ví dụ: Đối với tần số 500 dòng, lô 60° hoặc 30° thì sô ô như sau (500 X 500) x 1,15 = 287,500ô / Inch vuông.
Khối lượng ô 
chứa là chìa khóa để bảo đảm và tính đồng nhất của màng mực. Khối lượng nhiều hơn cho kết quả mực nhiều hơn, do đó độ phủ tốt hơn. Tuy nhiên, quá nhiều lượng mực in cũng làm bẩn tờ in. Nếu có quá nhiều mực trên đỉnh phần tử in trên bản in cao, nó sẽ chảy trên cạnh và kết quả là bẩn. Hình ảnh độ phân giải cao đòi hỏi số đường cao, khối lượng thấp của lô anilox. Có những quy tắc ảnh hưởng để xác định số lượng ô chứa lô anilox so với tần số trame của hình ảnh trên bản in.Phổ biến nhất là yêu cầu số ô chứa (cell) trên lô anilox nhiều hơn từ 3,5 đến 4,5 lần so với tần số trame của hình ảnh trên bản in. Điều này là để ngăn chặn hiện tượng moire trên lô anilox, do một hình ảnh xấu gây ra bởi trame của hình ảnh tương tác với các tần số ô trên lô anilox.


Hình 11 cho 
thấy tầm quan trọng của số lượng ô chứa đến khả năng in sạch. Có thể thấy rằng số đường của ô chứa cao( số đường - count line và số ô - count cell là những thuật ngữ được sử dụng thay thế cho nhau) có đủ vách(wall) ô chứa để hỗ trợ hình ảnh có trame rất mịn. Một ô chứa thô sẽ cho phép điểm (dot) ở chỗ phần trăm nhỏ rơi vào bên trong ô chứa, mà không được hỗ trợ bởi một vách (wall) ô chứa,do đó cho phép mực xung quanh điểm ảnh chảy vào vai của điểm. Điều này gây ra in bẩn hoặc các điểm (dot) liên kết với nhau ở bất cứ nơi nào một điểm không được hỗ trợ bởi vùng phẳng (land) giữa các ô. Một lô Anilox tốt có số ô chứa cao sẽ cho quá trình sạch đối với ảnh trame và chữ.

 

Hình 11: Điểm in (tramerơi vào (dopping) các ô (cell) do sự không phù hợp giữa anilox và loại trame của hình ảnh trên bản in (các loại trame ảnh: 100 lpi, 120 lpi, 133 lpi và 150 lpi).

 

Các thông số kỹ thuật của lô anilox tốt nhất mang lại vừa đủ lượng mực để cung cấp mật độ cần thiết và tính thống nhất của nền bệt trong khi không làm bít (phủ kín) trame mịn trên bản in.Lô này có đủ các ô chứa và cung cấp vùng trên bề mặt (land) để hỗ trợ các khu vực hình ảnh tốt nhất. Khi thay đổi lô anilox có giá trị/ khối lượng khác nhau, sẽ thu được hình ảnh có độ đậm khác nhau như ví dụ sau.

 

Hình 12: Giá trị của lô anilox khác nhau cho hình ảnh in khác nhau về độ đậm màu

 

Trên lô anilox mỗi một tần số ô đều có giá trị mang mực ở một khoảng nhất định từ giá trị thấp đến giá trị cao của nó, điều này liên quan đến tỉ số giữa độ sâu và độ rộng của ô chứa mực.

Giá trị ô chứa lô anilox

(Anilox cell volumes)

Giá trị ô chứa lô anilox

(Anilox cell volumes)

Giá trị ô chứa lô anilox

(Anilox cell volumes)

Tần số ô

(lpi)

Giá trị thấp

(BCM)

Giá trị cao

(BCM)

Tần số ô

(lpi)

Giá trị thấp

(BCM)

Giá trị cao

(BCM)

Tần số ô

(lpi)

Giá trị thấp

(BCM)

Giá trị cao

(BCM)

120

11 .00

16.00

300

4.30

7.50

900

1.30

3.00

140 

9.00 

14.00

360

3.70

6.50

1000

1.10

2.20

160 

7.00 

13.00

400

3.30

6.00

1200

1.00

2.00

180 

6.00 

11 .00

440

2.80

5.50

1400

0.90

1.90

200 

5.50 

1 0.50

500

2.70

5.20

1600

0.80

1.50

220 

5.00

10.00

550

2.50

5.00

1800

0.70

1.20

240 

4.50

9.50

600

2.30

4.50

2000

0.60

0.90

260

4.50

8.50

700

2.00

4.00

 

 

 

280

4.40

8.00

800

1.50

3.50

 

 

 

Bảng 1: Khoảng giá trị ô chứa với các loại tần số ô trên lô anilox

Góc của các ô chứa (Cell angle) (Góc mà tại đó các ô (cell) được khắc theo trục ngang của lô):

Góc của các ô là thông số quan trọng của lô anilox. Trước kia các ô có góc 45° so với trục của lô, ngày nay thường dùng với các ô khi chúng đặt ở góc 60°. Vì ở đây cung cấp nhiều khe hở ô chứa và diện tích bề mặt lô (land), không gian giữa các ô ít. Lô có góc 60° đạt được đồng đều hơn với lượng mực ít. Góc 60° cũng là tốt hơn trong việc tránh moire với các góc trame hình ảnh truyền thống vì nó không trùng với các góc trame hình ảnh mong muốn nhất là 45°. Hiện nay mới nhất được làm với góc ô chứa 60°.

 

Hình 13: Góc của các ô (cell) được khắc trên lô anilox.


Góc ô chứa (cell) xác định hình dạng ô và định hướng của chiều rộng ô: Nếu chiều rộng của ô rộng hơn theo hướng trục quay, mực có thể chảy dễ dàng; Nếu chiều rộng của ô hẹp hơn theo hướng trục quay, mực chảy 
ra ít. Trong góc ô 45°, vách tường thừa (chiều rộng của tường) tự nhiên xảy ra theo vòng quay giữa các ô. Tường này (chiều rộng tường) trái lại được sử dụng để mang mực in. Trường hợp góc theo 30° và 60°, đặt các ô trong tập hợp chặt khít nhất. Điều này cung cấp thêm 15% ô trên diện tích bề mặt lô cùng số lượng ô (lpi) dẫn đến sự phân bố của mực nhiều so với 45°.Góc của ô quyết định đến số ô trên mỗi inch vuông.


Các thông số lô anilox trong quá trình truyền mực:
Đôi khi một thợ in flexo kết luận rằng các lô lý tưởng là có số ô rất cao, ngay cả khi in trên vật liệu thấm hút. Nhưng thực tế là các ô rất sâu để đạt được khối lượng cần thiết.Điều này liên quan đến một khái niệm cần được xem xét: tỷ số chiều sâu trên độ mở (D/O). Có một phạm vi mà ở đó khối lượng các ô trên lô có thể được sử dụng để kiểm soát màng mực trên các vật liệu in, khi tỷ số này tăng thì khả năng mang lượng mực tăng. Ngoài phạm vi đó, khả năng mang mực không tăng theo khi tỷ số này tăng. Người ta thấy rằng lô anilox cần phải đảm bảo tỷ số chiều sâu/ độ mở ô (D/O) là từ 23% tới 33% để cho mực vào và ra khỏi ô chứa một cách thuận lợi. Nếu tỷ số này lớn hơn (khoảng 35 %), nơi có độ sâu ô lớn hơn có thể xảy ra hiện tượng: Mực bị tắc do mực khô sau một thời gian sử dụng; Khó làm sạch lô; Hệ số 
truyền mực kém; Tạo ra các vách ngăn gồ ghề. Nếu tỷ số này nhỏ hơn 23%: Khó giữ được sự ổn định của lô anilox với các thông số xác định trước.

 

Ảnh có chứa văn bản

Mô tả được tạo tự động

Cho đến nay các cuộc thảo luận có thể cho rằng các lô anilox dùng xác định của độ dày lớp mực. Nhưng điều này là không đúng hoàn toàn. Chính mực là đối tượng ảnh hưởng lớn nhất. Nó đã được giả định rằng số lượng chất lỏng của mực in được khô trên sản phẩm.Trên thực tế nó là số lượng của chất rắn, đặc biệt là các chất tạo màu, hoặc pigment. Khi in một mực lỏng,nếu yêu cầu đạt 40% lượng mực khô cho một mật độ và tính đồng nhất nền bệt, tất nhiên, sẽ đòi hỏi một khối lượng lô anilox cao hơn 40%. Một Lô anilox như vậy sẽ không in được sạch. Do đó, khi mọi người nói về lô anilox có số đường cao,khối lượng thấp, bạn phải nhận ra họ cũng đang nói về loại mực với số lượng tối đa của pigment và số lượng ít nhất của chất lỏng cần thiết để vận chuyển và bám dính.

 

Lựa chọn thông số của lô anilox khi in:

Trong quá trình in flexo, việc chọn và sử dụng loại lô anilox cần căn cứ vào nhiều thông số, tuy nhiên thông số quan trọng và thực tế nhất là giá trị truyền mực của lô (BCM). Các thông số kỹ thuật của các ô chứa trong lô anilox xác định khả năng của nó cho các ứng dụng cụ thể. Ví dụ, một lô anilox vs 200 ô chứa trên mỗi inch, có chiều sâu 30-35 micron, sẽ mang theo một giá trị 7,5 BCM. Điều này là rất nhiều mực in, áp dụng tốt cho các ứng dụng in sản phẩm cần nhiều mực in, như trên vật liệu rất thô, thấm mực nhiều.Tuy nhiên, nếu muốn áp dụng tốt cho công việc với đường kẻ nhỏ và hình ảnh tầng thứ trame mịn 133 (lpi) in trên giấy mịn và phủ keo bóng, ta có thể dùng một lô anilox loại 600 (lpi) và khối lượng mực 1,6 BCM.Xác định lô anilox tốt nhất cho một kịch bản sản xuất cần đưa ra một phân tích về yêu cầu của các thông số kỹ thuật và cách chúng liên quan đến các vật liệu sẽ được in và sự đa dạng của hình ảnh cần được in phục chế. Ngoài ra, khi chọn lô anilox cần lưu ý đến dạng gạt mực trên lô anilox bằng hệ thống dao gạt hay lô cao su.

 

Ứng dụng

Tần số đường lô anilox thích hợp (lpi)

Giá trị lô anilox thích hợp (BCM)

 

Đường kẻ dày và nền bệt

180 - 330

9 - 4

Đường kẻ và chữ

200 - 400

8 - 3

Các hình nét nhỏ (Vignettes)

360 - 500

3.6 - 2.8

In màu trame CMYK

500 - 1200

2.8 - 0.9

Bảng 2: Các tần số và giá trị của lô anilox khi in các loại hình ảnh khác nhau

Cách tính sự truyền mực qua lô anilox:

Khi in, giá trị lượng mực không bao giờ truyền hết từ ô chứa lên bản in, nên giá trị truyền mực thực của giá trị lô nhỏ hơn giá trị tính toán. Để xem xét khả năng truyền mực thực tế người ta thường dùng giá trị phần trăm giữa chúng gọi là hệ số truyền mực. Hệ số này phụ thuộc vào: loại lô anilox, mực in, bề mặt in và điều kiện in.

1) Cách xác định độ dày màng mực:

Để xác định được độ dày màng mực phải biết các thông số sau:

- Giá trị lô anilox = 6.0 BCM/in2

- Hệ số truyền mực = 80%

- Độ đặc của mực in = 25%

Ví dụ: Tính độ dày lớp mực theo số liệu trên.

Giải: 

- Từ hệ số truyền mực xác định giá trị lô anilox = (Hệ số truyền mực) x (giá trị lô anilox)= 0.8 x 6.0 = 4.8 BCM / in2

-  Đổi giá trị BCM sang đơn vị thể tích microm  (nhân với 109 )

                                4.8 BCM/in2 x 109  = 4.8 x 109 µ3/in2

Tính độ dày lớp mực khi còn ướt:

Chia giá trị mực/in2 cho diện tích µ/in2

(4.8 x109µ3/in2)/(6.45 x108µ2/in2 )=  7.44µ

 (2.54 x104µm x 2.54 x104µm = 6.45 x 108 µ2/in2)

- Từ % độ đặc của mực tính độ dày lớp mực khi khô.

(% độ đặc x độ dày mực ướt) = 25%x7.44µ =  0.25x7.44µ = 1.86µ

 

2) Cách tính giá trị (volume) truyền mực và xác định hệ số truyền mực:

Để tính phải biết hoặc đo chính xác:

- Trọng lượng của mực in khi ướt

- Giá trị lô anilox

- Tỷ trọng mực (khối lượng riêng)

Ví dụ: Tính hệ số truyền mực khi biết :

- Trọng lượng của nước khi ướt  = 79.28 mg/16 in2

- Giá trị lô anilox = 6.0 BCM/in2

- Tỷ trọng mực = 0.46 g/cm3

Giải:

- Đổi in2  ra cm2: nhân giá trị quy đổi (2.54 cm x 2.54 cm = 6.4516 cm2)

Theo đầu bài ta có: 6.4516 cm2 / in2 x 16 in2=  103.2256 cm2

- Xác định độ dày lớp mực ướt (chia trọng lượng mực / cm2 cho tỷ trọng mực )

- Tìm lượng mực trên 1cm2

(79.28 mg)/(103.225cm2 )=  7.68 x10-4g/cm2

- Xác định độ dày của lớp mực:

(7.68 x10-4 g/cm2)/(0.96 g/cm3 )  =  8 x10 – 4cm = 8µ

- Tìm giá trị truyền mực: nhân độ dày lớp mực với giá trị chuyển đổi µ2/ in2

8.0µ x (2.54)2 x 108µ2/in2 = 5.16 x 109 µ3/in2= 5.16 BCM/in2

- Xác định hệ số truyền mực: chia giá trị truyền mực cho giá trị lô anilox.

(5.16 BCM/in2)/(6.0 BCM/in2 ) x 100=  0.86 x 100=86%

Chia sẻ

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

LỰA CHỌN MỰC IN PHÙ HỢP

Cách lựa chọn mực in phù hợp với vật liệu: Yêu cầu về mục đích sử dụng. Công nghệ sử dụng ở in và sau in. Các chuẩn mực của các hệ thống kiểm tra. (ngành thực phẩm, mỹ phẩm...)

TỔNG QUAN VỀ GIẤY VÀ MÀNG BAO BÌ

Giấy in: Ưu điểm: Thỏa mãn rất nhiều tính chất công nghệ, tính chất tiêu dùng, tính kinh tế,... Mỏng, nhẹ nhưng bền, bề mặt lại tương đối phẳng và láng. Cấu trúc xốp của giấy làm cho nó có khả năng chịu được áp lực đồng thời mực in rất dễ bám lên. Độ trắng của giấy đảm bảo cho chất lượng tái tạo hình ảnh. Khả năng tái sinh tốt.

PHẦN 3: LỰA CHỌN LÔ ANILOX PHÙ HỢP TRONG QUÁ TRÌNH IN FLEXO

Quy định chung khi chọn lô anilox: Lựa chọn lô anilox là quá trình bắt buộc trong quá trình in flexo. Khi lựa chọn các loại lô anilox dùng trong in flexo một cách hiệu quả cần phải căn cứ vào một số yếu tố cơ bản sau:

PHẦN 2: LÀM SẠCH LÔ ANILOX TRONG QUÁ TRÌNH IN

Vai trò của việc làm sạch lô anilox: Làm sạch lô anilox trong in flexo là quá trình quan trọng hàng đầu trong quá trình in, nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, nhất là những sản phẩm đòi hỏi chất lượng cao và đồng đều. Phương pháp làm sạch lô anilox luôn luôn là một chủ đề nóng trong giới in flexo, rất nhiều các nghiên cứu, thảo luận về hệ thống làm sạch anilox và chất tẩy rửa hóa học. Mức độ sạch của lô anilox và thực tế đạt được, là một trong những vấn đề quan trọng nhất đối với các máy in flexo ngày nay. Điều này càng có ý nghĩa khi quá trình chế tạo các lô anilox ngày càng hiện đại cho ra các loại lô gia tăng về số lượng ô chứa trên một inch hay cm và yêu cầu ngày càng tăng cho việc nâng cao chất lượng in.Khi những cải tiến làm tăng chất lượng in, các ô chứa trên lô anilox trở nên nhỏ hơn, do đó, việc làm sạch chúng trở nên khó khăn hơn.

CÁC DẠNG MÁY IN CÔNG NGHỆ IN FLEXO

Trên thị trường có rất nhiều nhà sản xuất và cung ứng máy in và các vật tư liên quan đến máy in Flexo. Việc chọn phương án đầu tư thiết bị là một việc hết sức phức tạp, đòi hỏi một lượng thông tin đầy đủ và sự phân tích chính xác. Trong máy in thì bộ phận trục Anilox được xem như là trái tim của máy in, việc chọn đúng trục Anilox là việc rất quan trọng. Việc hiểu và tuân thủ các quy trình ỉn cho từng loại máy in giúp cho quá trình sản xuất ấn phẩm được thực hiện đúng thời gian và đạt chất lượng.

KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ KỸ THUẬT IN FLEXO

Lịch sử phát triển: Ra đời từ những năm 40-50 của thế kỷ 20 1995 – 2000 có những bước tiến vượt bậc và mang lại kỹ thuật mang tính kinh tế cao. Ưu điểm: Đa dạng vật liệu in Tốc độ in cao/ ổn định Cấu hình đơn giản, hiệu quả kinh tế in Nhược điểm: Tốn nhiều đơn vị in cho cùng một bài mẫu Phù hợp đơn hàng in số lượng vừa & lớn Công nghệ chế tạo khuôn in phức tạp đòi hỏi kỹ thuật cao. Chất lượng in còn thấp so với offset & gravure (in ống đồng).